Các dịch vụ:
* Hợp thức hoá lao động: 0981.293.005 - 0969.786.635

Hợp thức hoá lao động

Tìm hiểu về tình trạng nguồn nhân lực
Muốn có những thay đổi, cải cách, bước tiến mới trong việc quản lý nguồn nhân lực hiện nay, trước hết bạn cần có cái nhìn khái quát về hiện trạng nguồn nhân lực chung, để từ  đó doanh nghiệp của bạn mới đi sâu phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp. Việc phân tích và đánh giá đúng thực lực nguồn nhân lực sẵn có và nguồn nhân lực tiềm ẩn giúp cho doanh nghiệp dễ dàng sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc.
 

Phát triển nguồn nhân lực sẵn có
Dù trong thời đại nào đi chăng nữa , việc tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có luôn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của công ty. Để phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao, điều đầu tiên bạn cần làm chính là sàng lọc, đào tạo nguồn nhân lực sẵn có, đưa ra những chính sách để bồi dưỡng nhân viên trở nên chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu công việc đề ra.

Tuyển dụng nhân tài
Để sở hữu được nguồn nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp không những tận dụng mọi tiềm năng sẵn có mà còn cần đưa ra những chính sách thu hút và tìm kiếm nhân tài. Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần xây dựng được một chính sách đãi ngộ tốt với mức lương và phúc lợi ổn định, xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, năng động, văn hoá doanh nghiệp lành mạnh, ấn tượng. Đồng thời, để có thể tiếp cận với nguồn nhân tài, các doanh nghiệp có thể lựa chọn phối hợp với các trường đại học, trung tâm đào tạo để thực hiện các ngày hội tuyển dụng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có sự sàng lọc và tuyển chọn nghiêm túc, kĩ lưỡng để có thể tìm ra được những nhân tài thực sự phù hợp cho công việc

Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chưa bao giờ là đơn giản đối bất kì một doanh nghiệp nào. Đặc biệt trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra vô cùng quyết liệt này, các doanh nghiệp cần hết sức chú trọng vấn đề nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát triển doanh nghiệp lên một tầm cao mới, có vị trí vững chắc trong xã hội.

Hợp thức hoá lao động



Lợi thế thứ ba, chất lượng lao động từng bước được nâng lên; Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp (DN) và thị trường. Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam cơ bản đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài…

Thách thức đặt ra

Bên cạnh những lợi thế trên, nguồn nhân lực ở Việt Nam đang phải đối diện với những thách thức sau:

Thách thức lớn nhất là tính cạnh tranh trong thị trường nhân lực ngày càng rất cao, trong khi mức độ sẵn sàng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) Việt Nam còn chậm. Cạnh tranh giữa nước ta với các nước trên thế giới trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng cao ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng GDNN phải được cải thiện đáng kể theo hướng tiếp cận được các chuẩn của khu vực và thế giới, tăng cường khả năng công nhận văn bằng chứng chỉ giữa Việt Nam và các nước khác.

Thách thức thứ hai là Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số; cùng với đó là nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ hiện tượng biến đổi khí hậu khiến một số ngành suy giảm lợi thế cạnh tranh.

Thách thức thứ ba, chất lượng NNL ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, chất lượng lao động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và hội nhập; Khoảng cách giữa GDNN và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn. Hơn nữa, sự chuyển dịch mô hình, cơ cấu kinh tế khiến cho cung và cầu trong lao động thay đổi, trong khi các ngành nghề đào tạo trong nhà trường chưa bắt kịp được xu thế sử dụng lao động của DN. Khảo sát cho thấy, khả năng hòa nhập của học sinh, sinh viên Việt Nam sau tốt nghiệp trong môi trường lao động mới còn yếu; Khả năng thích ứng với thay đổi, kỹ năng thực hành và ý thức, tác phong làm việc cũng là những thách thức không nhỏ đối với lao động Việt Nam.

Thách thức thứ tư, cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao sẽ diễn ra mạnh mẽ trên bình diện thế giới, khu vực và quốc gia. Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định. Theo các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng, thái độ và tâm lý để sẵn sàng di chuyển của lao động Việt Nam hiện nay chưa cao.

Thách thức thứ năm, NSLĐ của Việt Nam thấp. Chất lượng nhân lực trong nước so với các nước trong khu vực còn chưa đồng đều, nhất là về kỹ năng nghề. Khoa học, công nghệ nước ta chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao NSLĐ, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam cũng chưa có giải pháp đủ mạnh để khuyến khích DN và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ.

Theo một nghiên cứu gần đây của Viện Khoa học Lao động xã hội, NSLĐ ở Việt Nam và trình độ quản trị DN hiện nay rất thấp, 2/3 người lao động đang thiếu kỹ năng về lao động và kỹ thuật; 55% số DN cho rằng rất khó tìm kiếm nguồn lao động có chất lượng cao. Trong khi trên 60% số DN FDI đang có kế hoạch mở rộng đầu tư tại Việt Nam nhưng nếu nước ta không nâng cao chất lượng nguồn lao động thì rất khó có thể thu hút nguồn vốn đầu tư.

Hợp thức hoá lao động


Việc các doanh nghiệp nước ngoài muốn gia nhập thị trường Việt Nam nhưng chưa nắm rõ các quy định của luật lao động Việt Nam; doanh nghiệp có đội ngũ nhân sự quá đông mà phòng nhân sự không đủ mạnh để quản lý hết các công việc liên quan hay doanh nghiệp muốn giảm thiểu chi phí quản lý nguồn nhân lực mà doanh nghiệp không có chuyên môn trong đó thì dịch vụ Hợp thức hóa lao động của TTV sẽ là sự lựa chọn phù hợp. Dịch vụ Hợp thức hóa lao động TTV là hình thức mà trong đó Đối tác vẫn tự chủ động trong việc tổ chức tuyển dụng ứng viên theo yêu cầu công việc riêng của mình và ủy thác việc ký hợp đồng lao động và quản lý toàn bộ mặt nhân sự này cho chúng tôi trực tiếp chịu trách nhiệm.

 Thách thức thứ sáu, chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh tế trong giai đoạn suy giảm, tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động. Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp, chưa đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm. Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao; chất lượng lao động thấp.

Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2017 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố cho thấy, 69% số DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đang vấp phải khó khăn trong tuyển dụng cán bộ kỹ thuật có tay nghề để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Báo cáo cũng nhận định, chất lượng NNL Việt Nam chưa có nhiều đột phá. DN FDI đánh giá chất lượng đào tạo và hiệu quả của lao động Việt Nam năm 2017 chỉ đạt 3,8 điểm. Vì vậy, DN phải chi nhiều tiền hơn cho hoạt động đào tạo khi tuyển dụng nhân sự mới, mức độ chi tăng qua các năm.

Thách thức thứ bảy, xem xét vấn đề thất nghiệp trong lợi thế so sánh với các nước tương quan, gần đây, lao động giá rẻ không còn là điểm mạnh của Việt Nam. Đặc biệt, khi Việt Nam ký kết các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), thì lao động trình độ cao mới có cơ hội, có việc làm và số còn lại đứng trước nguy cơ thất nghiệp.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước năm 2018 là 2%, trong đó khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%. Xu hướng thất nghiệp gia tăng có nhiều nguyên nhân, nhưng quan trọng nhất là chất lượng đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng chưa cao, lao động mới tốt nghiệp đa số không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của cơ quan, DN.

 Hệ thống thông tin thị trường lao động cũng chưa phản ánh khách quan, kịp thời sự biến động của thị trường lao động; chưa đưa ra được các dự báo trung và ngắn hạn về thị trường lao động, tính hiệu quả chưa cao của hoạt động dịch vụ việc  làm đã góp phần làm gia tăng xu hướng này…

Một số giải pháp trọng tâm

Hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với người lao động Việt Nam. Với tiêu chí tuyển dụng cao hơn đòi hỏi NNL phải có nhiều kỹ năng ngoài kiến thức chuyên môn như: Khả năng giao tiếp, làm việc nhóm, kỹ năng báo cáo hay trình độ tin học... Như vậy, muốn thành công trong môi trường cạnh tranh, người lao động Việt Nam phải có ý thức mở rộng kiến thức nghề nghiệp, áp dụng công nghệ mới không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp… Nếu không ý thức được điều này, người lao động Viêt Nam sẽ thua ngay trên “sân nhà”.

Nhằm nâng cao chất lượng NNL, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và hội nhập kinh tế quốc tế, thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, mới yêu cầu về giáo dục, nâng cao chất lượng NNL thông qua đẩy mạnh đào tạo kỹ năng, năng lực thực hành; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá, đa dạng nguồn lực cho phát triển GDNN. Rà soát tổng thể đội ngũ nhà giáo GDNN (cả giáo viên trong các trường trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng), để thực thiện chuẩn hóa và xây dựng lộ trình chuẩn hóa, đáp ứng mục tiêu đào tạo nghề đến năm 2020.

Thứ hai, đẩy nhanh việc xây dựng các chuẩn đầu ra dựa trên tiêu chuẩn nghề phù hợp với Khung trình độ quốc gia, trước mắt tập trung vào các nghề trọng điểm, các nghề có trong danh mục của hội thi tay nghề ASEAN; Rà soát và điều chỉnh việc xây dựng các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, theo hướng linh hoạt, tăng tính thực hành.

Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề, ưu tiên tập trung các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia; rà soát, chỉnh sửa các danh mục thiết bị đã ban hành theo hướng tiếp cận với các nước trong khu vực; áp dụng tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo theo chuẩn khu vực, quốc tế. Đồng thời, rà soát, thống nhất các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng GDNN; xây dựng các cơ chế, quy định về đảm bảo chất lượng; các cơ chế, quy định và phát triển hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng trong các cơ sở GDNN.

Hợp thức hoá lao động

Thứ ba, tham gia xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; tổ chức giảng dạy, hướng dẫn thực tập và đánh giá kết quả học tập của người học tại cơ sở GDNN; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động của DN; Các khoản chi cho hoạt động đào tạo nghề nghiệp của DN được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế; Cung cấp thông tin về nhu cầu đào tạo, sử dụng lao động của DN theo ngành, nghề và nhu cầu tuyển dụng lao động hằng năm cho cơ quan quản lý nhà nước về GDNN.

Thứ tư, tăng cường và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn để tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức về tầm quan trọng của GDNN đối với toàn xã hội; Xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, tư vấn, hướng nghiệp, phân luồng học sinh trong nhà trường phổ thông; giới thiệu việc làm trong trường nghề. Tiếp tục hợp tác với các Chính phủ: Hàn Quốc, Đức, Italia và Nhật Bản trong triển khai các dự án ODA dạy nghề đã ký kết; Thực hiện đám phán với các nhóm nước trong ASEAN để tiến tới công nhận văn bằng, chứng chỉ và kỹ năng nghề giữa các nước; Hoàn thiện các chính sách, khuyến khích các cơ sở GDNN trong nước mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài; hợp tác nghiên cứu khoa học; Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào phát triển cơ sở GDNN, hợp tác đào tạo, mở văn phòng đại diện tại Việt Nam.

Thứ năm, phát triển thị trường lao động trong giai đoạn đến năm 2020 trong điều kiện kết hợp giữa chiến lược phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, hướng về xuất khẩu, phát huy được các lợi thế so sánh và tiềm năng của lực lượng lao động với chiến lược tập trung vào nhu cầu NNL cho phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ yêu cầu công nghệ và kỹ năng cao đáp ứng nhu cầu hội nhập. Thúc đẩy thực hiện cơ chế thương lượng, thỏa thuận về tiền lương nhằm đảm bảo tiền lương thực tế được trả đúng theo cơ chế thị trường, đồng thời phù hợp với sự đóng góp của người lao động vào quá trình tăng trưởng.

Thứ sáu, thúc đẩy quá trình tự do lựa chọn việc làm và dịch chuyển lao động (dịch chuyển dọc theo các cấp trình độ, dịch chuyển ngang giữa các thành phần sở hữu, khu vực, vùng và quốc tế) đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng của thị trường lao động (hướng nghiệp, dịch vụ việc làm, thông tin và dự báo thị trường lao động) và tổ chức cung cấp các dịch vụ công về việc làm có hiệu quả.

 


Ổ cắm điện thoại COMMSCOPE Để đảo trạng thái lỗ cắm xuất điện ra của SMART SWITCH, Dòng sản phẩm công tắc – ổ cắm Mallia Legrand mang thương hiệu Legrand chất lượng – uy tín, với nhiều năm kinh nghiệm Legrand đã khẳng định được
Thuê xe máy hcm Chi phí thuê xe máy theo ngày, Tuần, Tháng cho từng loại, Bạn có thể dễ dàng tìm thấy điểm thuê xe máy ở bất kỳ chỗ nào, thậm chí ngay tại khách sạn bạn đang ở. Giá xe cũng phụ thuộc vào nhiều yếu
Dự toán công trình Chức năng thực hiện thẩm tra bản vẽ thiết kế và dự toán, Trường hợp những loại công tác xây lắp có yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công khác với qui định trong định mức này thì lập định mức bổ sung

- Phone: +84-908-744-256